#

Tiểu quốc Nam Bàn hay Tiểu quốc Jarai (Ala Car Patao Degar, Dhung Vijaya), được tách ra từ địa khu Vijaya-Degar sau khi Đại Việt xâm chiếm và phá hủy thành Vijaya (Đồ Bàn hay Chà Bàn) vào năm 1471. Nam Bàn là một tiểu quốc cổ của các cư dân Nam Đảo ở Tây Nguyên (Champa) nòng cốt là người Jarai và người Rhade kết hợp với những tộc người Champa Vijaya. Bộ phận hoàng tộc Champa Vijaya trong quá trình lịch sử đã đồng hóa vào văn hóa bản địa Jarai. Tiểu quốc Nam Bàn hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 (1471) và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các sắc tắc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 20. Nước Nam Bàn sau này hình thành hai nước Thủy Xá (Patao Ea) và Hỏa Xá (Patao Apui) mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Daklak, … tức miền đất vùng Tây Nguyên ngày nay.

#

Theo sử liệu của người Champa và các sử liệu Việt Nam và Tây phương để lại, Po Krung Garai (Po Klong Garai: Thủ lĩnh Rồng) là nhân vật có thật trong lịch sử Champa. Ngài Po Krung Garai là vị vua thứ tư trong triều đại thứ 11 (11th Dynasty – Vijaya) đóng đô ở thành Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar của Vương quốc Campa. Trong quá trình trị vị, với tài năng, đức độ và văn thao võ song toàn, ông không chỉ có công đánh giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước Champa trong lịch sử mà còn có công lớn cho công trình thủy lợi ở tiểu bang Vijaya-Degar và Panduranga.

#

Hệ thống Rumi Cham chuẩn được xây dựng trên cơ sở 21 ký tự Latin nhằm biểu đạt đầy đủ hệ thống âm vị học của tiếng Cham. Hệ thống này phản ánh trung thực cấu trúc âm thanh và quy tắc chính tả truyền thống, đảm bảo sự tương ứng chặt chẽ giữa ký hiệu chữ viết và phát âm. Nhờ vậy, Rumi Cham chuẩn đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, nghiên cứu ngôn ngữ và bảo tồn văn hóa Cham, đồng thời chuẩn hóa việc ghi chép từ vựng truyền thống. Hệ thống này được thiết kế để biểu đạt tất cả các âm vị của tiếng Cham mà không cần bổ sung ký tự mới, tạo nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu và ứng dụng liên quan đến chữ viết Cham. Hệ thống Rumi Champa (Rumi Cham 2000) là nền tảng để xây dựng giáo trình, phần mềm và các công trình nghiên cứu, góp phần bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Cham trong thời hiện đại. Rumi Champa (Rumi Cham 2000) do TS. Putra Podam cải tiến từ Rumi EFEO, trong một chuyên đề Thạc sỹ (Master) về Khoa học Máy tính tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) năm 2000. Hệ thống này phục vụ nghiên cứu, giáo trình, phần mềm bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Cham, giúp học sinh, nghiên cứu sinh và cộng đồng quốc tế tiếp cận chữ Thrah thuận tiện, đồng thời duy trì tính chính xác về ngữ âm và ngữ pháp. TS.Putra Podam, Rumi Champa (bản phiên âm), đã xây dựng, tiếp tục cải tiến và áp dụng đầu tiên trong cuốn luận án Thạc sỹ (Master) tại Viện Công nghệ Châu Á (Thailand) mang tựa đề: “Cải tiến Rumi Campa để xây dựng ứng dụng bảo tồn và phát huy ngôn ngữ Cham”, báo cáo năm 2004. TS.Putra Podam, Rumi Champa (Rumi Cham 2000) đã báo cáo tại hội thảo quốc tế. “Rumi Champa: A Modern Writing System for the Cham Language”. The 5th International Conference on Posgraduate Education (ICPE-5 2012). Malaysia, 18-19 December, 2012.

#

Theo cứ liệu của lịch sử Trung Hoa, Việt Nam, Tây phương và đặc biệt sự tồn tại của một số đền tháp ở Vijaya-Degar (thuộc tỉnh Bình Định, nay là tỉnh Gialai) là minh chứng cho sự phát triển hưng thịnh một thời của Vương quốc Champa. Vijaya là một những kinh đô của Champa, sự tồn tại của nó được tính từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15 (1471). Vijaya-Degar (tiếng Phạn: विजय) là một trong bốn tiểu bang (tiểu quốc) của người Degar Tây Nguyên và Champa mà kinh đô là Vijaya (Đồ Bàn - Chà Bàn). Vijaya-Degar, theo lịch sử Trung Hoa được gọi là Tân Châu nhằm phân biệt với Cựu Châu là tiểu bang Amaravati ở phía bắc sau khi Champa chuyển kinh đô từ Amaravati về Vijaya-Degar. Theo các nhà nghiên cứu qua các bia ký Champa cho rằng tiểu bang Vijaya-Degar bao phủ tỉnh Bình Định, Tây Nguyên và đôi lúc bao gồm cả Quảng Ngãi. Bởi tiểu bang Vijaya-Degar, Amaravati, … thường phân chia thành khu vực phía bắc Champa trong lịch sử. Theo sử liệu Việt Nam và Trung Quốc thì vương quốc Champa được gọi là “Chiêm Thành” (chữ Hán: 占城) từ năm 877 đến năm 1693, phát xuất từ “Champapura” (Kinh thành Champa). “Chiêm” phiên âm từ “Champa” và “Thành” là từ chuyển ngữ từ “Pura” ám chỉ cho kinh thành, thủ đô, vương quốc của Champa.

#

Trong vài năm gần đây, từ năm 2021, một số phần tử người Chăm vì mất quyền lợi trong tổ chức Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bani, do tính hám danh, hám lợi, lợi dụng tôn giáo để lừa bịp những tín đồ Chăm nhẹ dạ cả tin, buôn bán văn hóa, kích động tôn giáo Chăm, xáo trộn cộng đồng Chăm, gây mất đoàn kết dân tộc. Bằng cách đòi thành lập “Tôn giáo Bani” nhưng không đưa ra một luận cứ khoa học, hay một nghiên cứu nào.

#

Trong đa dạng nền văn hóa trên thế giới có rất nhiều hình thức mai táng như: địa táng (thổ táng), hỏa táng, thủy táng, không táng (thiên táng), …Trong bài viết này chỉ đề cập đến địa táng (thổ táng) của người Hồi giáo (Islam). Tập tục an táng thường là xác người được chôn trong đất. Đây là tập tục bắt nguồn từ thời xa xưa, người ta có thể thấy các khu chôn cất khắp nơi trên thế giới. Thông thường đó là những gò đất, hang động, đền, tháp, lăng mộ, …dùng để lưu giữ thi hài của tổ tiên. Ngày nay, phong tục chôn người chết dưới đất với bia đá để chỉ nơi chôn cất rất phổ biến, tuy nhiên hướng đặt thi hài người chết (theo quan điểm Hồi giáo) thì hoàn toàn giống nhau. Theo quan điểm Hồi giáo (Islam), ngôi mộ phải vuông góc với hướng (qibla, kiblat) là hướng về phía Kaaba (kabah) trong Thánh dduwwofng Hồi giáo linh thiêng ở Mecca (Makkah).

#

Sau khi cầu nguyện (solat, salat, kakuh) trong thánh đường xong thì mọi tín đồ Islam (Awal) thường phải Salam nhau. Tại Malaysia: Tín đồ Islam thường phải Salam nhau với người ngồi bên phải và người ngồi bên trái sau khi cầu nguyện (Solat, Shalat, Kakuh) xong. Sau đó tùy theo mỗi tín đồ Islam có thể Salam thêm với một số người quen, với bạn bè và với một số Imam khác. Awal (Hồi giáo Awal): Tín đồ Awal của Chăm Bani (Chăm có đạo), giáo sĩ (Acar) buộc phải Salam nhau. Nghi thức chào nhau (Salam) trong tác phẩm Akayet Inra Patra gọi là: Jabat Salam. Đối với giáo sĩ (Acar) của Hồi giáo Awal (Islam Champa), thường buộc phải Jabat Salam cho tất cả mọi người trong Thánh đường (Magik). Điều này có thể thực hiện (Jabat Salam) được khi số lượng Acar trong Magik xê dịch trong khoảng từ 10 đến 100 người. Giả sử, nếu tín đồ Acar tăng lên khoảng 3000 (hay trên 5000 người) thì nghi thức Jabat Salam của Awal không thể thực hiện được.

#

Theo nhiều bậc cao niên Jaoh yaw (kể chuyện xưa) truyền lại rằng, Mỵ Ê là sắc tộc Rhade, con của một học giả lừng danh thuộc khu vực Vijaya-Degar (Bình Định), ông là một học giả nổi tiếng và tinh thông Phạn ngữ (Sanskrit), Chăm ngữ (Hayap), Thái, Lào, … Mỵ Ê là con gái ngoan hiền, thùy mị, nết na, tạo hóa đã ban cho nàng không chỉ tố chất thông minh, trí tuệ sáng suốt mà cả nhan sắc tuyệt trần. Nàng Mỵ Ê rất giỏi cầm, kỳ, thi, họa, dệt vải, và sắc thái vương giả. Đặc biệt, tài năng ca múa, âm nhạc của nàng rất toàn diện khiến các thiếu nữ Champa thời ấy không ai bì kịp. Tin tức lan truyền về nhan sắc tuyệt trần và tài năng của nàng Mỵ Ê (H’Bia Mamih Ea) khắp vùng Vijaya. Từ đó, vua Jaya Simhavarman II (Sạ Đẩu) đã nạp nàng Mỵ Ê làm vương phi và hết sức yêu thương.

#

Ngày 8 tháng 3 đã trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới về quyền bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ trên toàn cầu. Ở Việt Nam, ngày 8 tháng 3 còn là ngày để tôn vinh những nét đẹp truyền thống của phụ nữ và những đóng góp to lớn của phụ nữ trên cả hai phương diện gia đình và xã hội “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Vì vậy, kỷ niệm ngày quốc tế phụ nữ 8 tháng 3 là dịp để ôn lại truyền thống tốt đẹp của phụ nữ và những câu chuyện về những tấm gương phụ nữ oanh liệt xưa và nay mãi là đề tài thú vị dành cho mọi người. Bài viết này kể lại câu chuyện cảm động về một người phụ nữ Champa đó là Vương phi Mỵ Ê đã trẫm mình xuống sông để giữ trọn trinh tiết với chồng là quốc vương Sạ Đẩu (Jaya Sinhavarman II), gây xúc động và cảm kích không chỉ cho cộng đồng Chăm, Việt mà cả quốc gia lân cận cho đến tận bây giờ.  Theo nhiều bậc cao niên Jaoh yaw (kể chuyện xưa) truyền lại rằng, Mỵ Ê là sắc tộc Rhade, con của một học giả lừng danh thuộc khu vực Vijaya-Degar (Bình Định), ông là một học giả nổi tiếng và tinh thông Phạn ngữ (Sanskrit), Chăm ngữ (Hayap), Thái, Lào, … Mỵ Ê là con gái ngoan hiền, thùy mị, nết na, tạo hóa đã ban cho nàng không chỉ tố chất thông minh, trí tuệ sáng suốt mà cả nhan sắc tuyệt trần. Nàng Mỵ Ê rất giỏi cầm, kỳ, thi, họa, dệt vải, và sắc thái vương giả. Đặc biệt, tài năng ca múa, âm nhạc của nàng rất toàn diện khiến các thiếu nữ Champa thời ấy không ai bì kịp. Tin tức lan truyền về nhan sắc tuyệt trần và tài năng của nàng Mỵ Ê khắp vùng Vijaya. Từ đó, vua Jaya Simhavarman II (Sạ Đẩu) đã nạp nàng Mỵ Ê làm vương phi và hết sức yêu thương.

#

- Theo biên niên sử Champa Sakkarai dak rai patao do Pgs.Ts. Po Dharma công bố, thì Po Klaong Halau (1567-1591 hay1579-1603), không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Mahosarak (Ma-kha Trà-lộc), lên ngôi năm Thỏ, thoái vị năm Thỏ, trị vì 25 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (gần làng Chung Mỹ, Phanrang. Ðầu thế kỷ thứ 18, Bal Pangdurang dời về Phanri ở Bal Canar, thôn Tịnh Mỹ).  - Theo Wikipedia bách khoa toàn thư mở, thì Po Klaong Halau có tên Hán Việt là Bà Khắc-lượng Khất-lưu (1579 - 1603). - Theo gia phả vua Islam Champa tại Kelantan (Malaysia), thì Po Klaong Halau có tên Po Klau Halu (1570 - 1577) là vị vua Islam kế nhiệm Po At (1553 – 1579) là vị vua Islam.