Công nữ Ngọc Khoa: Ký ức Cham và biểu tượng suy vong quốc gia

Author: Putra Podam
In category Research
Nov 27, 2025, 12:47 AM

Name: PhD. Putra Podam (Văn Ngọc Sáng)
Editor-in-Chief: Champa.one
Email: putrapodam@gmail.com
 

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut) trong ký ức cộng đồng Cham, liên quan đến triều đại Po Rome (1627-1651) ở Panduranga. Dựa trên biên niên sử Panduranga, gia phả Nguyễn Phước, và truyền thuyết dân gian tại các palei Cham Bani, nghiên cứu làm rõ cộng đồng Cham tố cáo Công nữ Ngọc Khoa là nhân vật thực hiện mưu đồ chính trị theo lệnh Chúa Nguyễn, sử dụng sắc đẹp và trí tuệ để thao túng vua Po Rome, gây suy yếu triều đình và phá hoại trật tự tín ngưỡng, chính trị của Panduranga.

Qua khảo sát, Bia Ut như “nội gián” theo mưu đồ Chúa Nguyễn và Bia Ut trong biểu tượng hóa sự suy vong quốc gia, nghiên cứu chỉ ra cách thần dân Panduranga: cá nhân hóa biến cố lịch sử, biểu tượng hóa đạo lý, và cảnh báo xã hội về ảnh hưởng ngoại lai cũng như mối nguy rạn nứt trật tự triều đình. Hình tượng Bia Ut vừa thể hiện mưu đồ chính trị của ngoại tộc, vừa củng cố bản sắc văn hóa Cham, phản ánh quan điểm của thần dân Panduranga về các âm mưu can thiệp từ bên ngoài và tầm quan trọng của việc bảo vệ trật tự quốc gia.

Từ khóa: Ngọc Khoa, Bia Ut, Panduranga, Po Rome, truyền thuyết Cham, ký ức tập thể, nội gián, suy vong quốc gia.


Abstract

This study examines Princess Ngọc Khoa (Bia Ut) in the collective memory of the Cham community, in relation to the reign of Po Rome (1627-1651) in Panduranga. Based on the Panduranga chronicles, the Nguyễn Phước genealogies, and oral traditions from Cham Bani villages, the research highlights how the Cham community accuses Princess Ngọc Khoa of executing political schemes under the orders of Chúa Nguyễn, using her beauty and intelligence to manipulate King Po Rome, weaken the royal court, and undermine the religious and political order of Panduranga.

By analyzing Bia Ut as a “political agent” under Chúa Nguyễn’s plan and as a symbol of the kingdom’s decline, the study demonstrates how the subjects of Panduranga personalized historical events, transformed them into moral symbols, and issued social warnings about foreign influence and threats to the stability of the royal order. The figure of Bia Ut both represents the political scheming of external powers and reinforces Cham cultural identity, reflecting the perspectives of Panduranga’s people on foreign interventions and the critical importance of safeguarding national order.

Keywords: Ngọc Khoa, Bia Ut, Panduranga, Po Rome, Cham legends, collective memory, political agent, state decline


1. Mở đầu

Công nữ Ngọc Khoa, trong ký ức cộng đồng Cham thường được nhắc đến với tên gọi Bia Ut, là nhân vật trung tâm của nhiều truyền thuyết liên quan đến triều đại Po Rome (1627-1651) tại vương quốc Panduranga-Champa. Bà, tên đầy đủ Nguyễn Thị Ngọc Khoa, là em cùng mẹ với công nữ Ngọc Vạn và là con gái thứ ba của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Trong tiếng Cham, Bia Ut (từ Sanskrit hoặc Malay: Uttara, “Phương Bắc”) nghĩa là “công nữ phương Bắc” hay “công nữ phía Đại Việt”. Theo gia phả Nguyễn Phước, bà được gả cho vua Po Rome vào năm Tân Mùi (1631), một cuộc hôn phối mang ý nghĩa chính trị, đồng thời đặt bà vào trung tâm những biến cố đầy kịch tính và nguy cơ đối với vương quốc Panduranga.

Trong ký ức dân gian Cham, Bia Ut được ghi nhận là nhân vật thực hiện mưu đồ chính trị theo lệnh Chúa Nguyễn, lợi dụng sắc đẹp và trí tuệ để thao túng vua Po Rome, gây suy yếu triều đình và phá hoại trật tự tín ngưỡng, chính trị của Panduranga. Một số truyền thuyết kể rằng bà thúc ép Po Rome chặt cây thiêng kraik (krek), biểu tượng của lực linh thiêng bảo hộ quốc gia và trật tự truyền thống, từ đó lý giải sự suy vong của vương quốc. Qua các câu chuyện này, thần dân Panduranga truyền lại bài học cảnh giác trước mưu đồ ngoại lai, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ trật tự quốc gia, tín ngưỡng bản địa và bản sắc văn hóa trước những can thiệp chính trị từ bên ngoài. Nghiên cứu phân tích sự hình thành, chức năng và ý nghĩa văn hóa của những truyền thuyết về Bia Ut, dựa trên khảo sát tư liệu dân gian, biên niên sử Panduranga, lưu trữ số hóa và nghiên cứu học thuật, nhằm làm sáng tỏ cách ký ức Cham phản ánh và bảo vệ quan điểm của thần dân Panduranga về lịch sử và quyền lực.

Hình 1. Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut: tiếng Cham). Tên đầy đủ là Nguyễn Thị Ngọc Khoa hay Nguyễn Phúc Ngọc Khoa, là em ruột cùng mẹ với công nữ Ngọc Vạn và là con gái thứ ba của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Thần dân Pandurnga gọi Bia Ut (Ut; Mal. Skt.Uttara: Phương Bắc). Bia Ut: nghĩa là công nữ phương Bắc, hay công nữ phía Đại Việt. Theo Nguyễn Phước tộc Thế phả, Ngọc Khoa được gả cho vua Po Rome vào năm Tân Mùi (1631). Cuộc hôn phối này tạo tình giao hảo giữa hai nước Champa và Đại Việt được tốt đẹp, để chúa Nguyễn dồn lực đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam chiếm Panduranga.
Ảnh: Putra Podam.

2. Bối cảnh lịch sử và xã hội Panduranga dưới triều Po Rome

Triều đại Po Rome (1627-1651) diễn ra trong bối cảnh Panduranga trải qua nhiều thử thách chính trị, quân sự và văn hóa. Vương quốc này, nằm ở khu vực thuộc tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai và một phần tỉnh Lâm Đồng, trở thành điểm giao thoa của các lực lượng ngoại lai và áp lực chính trị. Theo Biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao) và gia phả hoàng tộc Kelantan, Po Rome được ghi nhận là một quân vương có khả năng ngoại giao linh hoạt, nhưng đồng thời phải duy trì trật tự nội bộ thông qua nghi lễ, tín ngưỡng truyền thống và mối quan hệ với các tộc trưởng. Ông đứng giữa áp lực từ Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, các thương nhân và sứ thần Malay-Hồi giáo, cùng các mâu thuẫn nội bộ, khiến Panduranga trở thành một vùng đệm chính trị và văn hóa đầy rủi ro.

Trong ký ức của thần dân Panduranga, việc triều đình phải đối mặt với những ảnh hưởng ngoại lai tạo ra một nguy cơ nội tại: các yếu tố bên ngoài không chỉ xâm nhập văn hóa mà còn có thể thâm nhập triều chính thông qua con người, điển hình là liên minh hôn nhân chính trị. Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut), con gái thứ ba của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, được gả cho Po Rome năm Tân Mùi (1631), trở thành biểu tượng sống của nguy cơ này. Thần dân Panduranga xem bà vừa là công chúa ngoại tộc, vừa là nhân vật đại diện cho mưu đồ chính trị của Chúa Nguyễn, có thể thao túng triều đình Panduranga từ bên trong.

Trong xã hội Cham, tín ngưỡng bản địa giữ vai trò nền tảng, củng cố quyền lực triều đình và bảo vệ trật tự xã hội. Các nghi lễ triều đình và các biểu tượng tâm linh như cây thiêng kraik được coi là hiện thân của yang, lực linh thiêng bảo hộ quốc gia. Sự can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là thông qua những cá nhân ngoại tộc trong triều đình, được ký ức tập thể gán cho là nguyên nhân mất cân bằng giữa truyền thống bản địa và ảnh hưởng ngoại lai, dẫn đến khủng hoảng và suy vong. Trong bối cảnh này, Bia Ut trở thành trung tâm của các huyền thoại phản bội, nơi mà sắc đẹp, trí tuệ và vai trò ngoại lai của bà được cộng đồng Cham xem như công cụ để Chúa Nguyễn thao túng Po Rome, gây ra những quyết định làm suy yếu quốc gia.

Các truyền thuyết về Bia Ut không chỉ nhấn mạnh yếu tố cá nhân mà còn phản ánh quan điểm đạo lý và cảnh báo xã hội của thần dân Panduranga: sự mê muội của vua, việc tin tưởng ngoại lai hơn truyền thống, và hậu quả của việc phá vỡ trật tự tín ngưỡng. Những câu chuyện này vừa là bài học đạo lý, vừa là cách cộng đồng Cham cá nhân hóa biến cố lịch sử, đồng thời tố cáo vai trò của Chúa Nguyễn thông qua việc “cài cấm” Bia Ut vào triều đình như một hình thức nội gián.

Bối cảnh chính trị, xã hội và tôn giáo này lý giải tại sao hình tượng Bia Ut lại chiếm vị trí trung tâm trong truyền thuyết phản bội, truyền thuyết bi kịch cá nhân và truyền thuyết biểu tượng hóa sự suy vong. Các câu chuyện dân gian không chỉ phản ánh quan điểm của thần dân Cham về sự sụp đổ và xung đột nội tại, mà còn nhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền lực, tôn giáo và bản sắc văn hóa, đồng thời tố cáo sự thâm nhập của yếu tố ngoại lai thông qua nhân vật Bia Ut trong tiến trình duy trì và bảo vệ vương quốc Panduranga dưới triều Po Rome.

Hình 2. Vua Po Rome (Nik Mustafa, Sultan Abdul Hamid Shah, Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah). Po Rome (trị vì: 1627-1651), là một vị vua Panduranga-Champa theo Hồi giáo (Islam), kế thừa từ triều đại Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha) cũng là một vị vua Panduranag Islam hùng mạnh. Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih hay H’bia Than Cih) là con gái của vua Po Klong Mah Nai, và Thứ hậu Than Chan (H’bia Than Can) là con gái của một thủ lĩnh (tộc trưởng) người Rhade (Degar, Ede) là Công nữ H'Drah Hajan Kpă có nghĩa “Công chúa Hạt Mưa”. Trong thời gian Po Rome ở Makkah, người Malay gọi là Serembi Makkah, tức là tiểu vương quốc Kelatan (Malaysia). Tại đây, Po Rome kết hôn với công chúa Islam là Puteri Siti (Công chúa Siti). Chính thức là người có danh phận là thành viên của dòng dõi vương triều theo Islam tại Malaysia. Biên niên sử Malaysia ghi lại rằng vua trị vì tại tiểu vương quốc Kelantan hôm nay là dòng giỏi của vua Po Rome. Po Rome còn cưới Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut: tiếng Cham), tên đầy đủ là Nguyễn Thị Ngọc Khoa hay Nguyễn Phúc Ngọc Khoa mà Thần dân Panduranga gọi Bia Ut (Ut; Mal. Skt.Uttara: Phương Bắc). Bia Ut: nghĩa là công nữ phương Bắc, hay công nữ phía Đại Việt. Theo Nguyễn Phước tộc Thế phả, Ngọc Khoa được gả cho vua Po Rome vào năm Tân Mùi (1631). Ngoài ra, Po Rome còn hôn phối với một số công chúa khác như: H’bia Laku Makam (Hoàng hậu Laku Makam), H’bia Hatri (Hoàng hậu Hatri), H’bia Sumut (Hoàng hậu Sumut). 
Ảnh: Putra Podam.

3. Huyền thoại nội gián của Bia Ut trong ký ức Cham

Theo thần dân Panduranga, Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut) hiện lên như một nhân vật nội gián, được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cài vào triều đình Panduranga nhằm thực hiện mưu đồ chính trị, thao túng vua Po Rome và làm suy yếu vương quốc từ bên trong. Ký ức này được truyền lại cho hậu thế qua truyền thuyết dân gian để phản ánh nguyên nhân sụp đổ của triều đại và thể hiện quan điểm phê phán mạnh mẽ đối với các hành vi ngoại lai xâm nhập triều đình.

Theo các truyền thuyết phổ biến tại các palei Cham ở hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận, Bia Ut lợi dụng sắc đẹp và trí tuệ để quyến rũ vua Po Rome, khiến ông mê muội và thực hiện những quyết định được xem là phá hoại nền tảng tâm linh và chính trị của vương quốc. Nổi bật nhất là việc bà thuyết phục vua chặt cây thiêng kraik, một biểu tượng trọng yếu trong tín ngưỡng Cham, hiện thân của yang, lực linh thiêng bảo hộ quốc gia và trật tự triều đình. Hành vi này, trong diễn ngôn Cham, được nhìn nhận là âm mưu chính trị có chủ ý, được Chúa Sãi thúc đẩy từ bên ngoài, bất chấp luân thường đạo lý và nghĩa vợ chồng giữa Bia Ut và vua Po Rome. Việc cá nhân nữ giới ngoại tộc thực hiện hành vi này được thần dân Panduranga xem là hành vi phản bội cả vương quốc lẫn hoàng gia, đồng thời là minh chứng cho sự xâm nhập và thao túng chính trị của Chúa Nguyễn.

Hậu quả của hành vi nội gián này được truyền thuyết mô tả một cách rõ ràng: sau khi cây thiêng bị chặt, Panduranga rơi vào chiến bại, hỗn loạn, và mất đi sự bảo hộ thần linh. Trong ký ức Cham, hình ảnh này không đơn thuần mang ý nghĩa tôn giáo, mà trở thành một ẩn dụ chính trị, biểu tượng cho sự rạn nứt trật tự xã hội, sự suy yếu quyền lực triều đình, và thất bại chiến lược của vương quốc. Qua đó, Bia Ut trở thành nhân vật trung tâm mang trách nhiệm về bi kịch quốc gia, vừa là biểu tượng của sự mê muội và ảnh hưởng ngoại lai, vừa phản ánh lỗi lầm của vua Po Rome khi đánh mất sự gắn kết với trật tự tâm linh truyền thống.

Một số dị bản truyền khẩu kể rằng sau cái chết của Po Rome, thần dân Panduranga đã trừng phạt Bia Ut bằng cách “chúi đầu xuống bùn cho đến chết”. Hình thức xử lý này, dù chưa được xác nhận trong các tư liệu đương thời hay khảo cổ, phản ánh hình thức làm nhục trục xuất khỏi cộng đồng, và đồng thời gửi đi một thông điệp đạo lý mạnh mẽ: cảnh báo về sự nguy hiểm của nội gián và ảnh hưởng ngoại lai. Dòng truyền thuyết khác kể rằng sau này Bia Ut bị chế tác thành tượng “chúi đầu xuống bùn”, tượng trưng cho sự sỉ nhục, nhắc nhở các thế hệ sau về hậu quả của mưu đồ chính trị và sự mê muội trong triều.

Từ góc độ sử học thực chứng hay bia đá Champa chưa tìm thấy Công nữ Ngọc Khoa là gián điệp. Tuy nhiên, truyền thuyết vẫn tồn tại lâu dài để giải thích biến cố lịch sử trong giai đoạn đó. Sự việc Bia Ut, một nữ ngoại tộc thực hiện mỹ nhân kế chính trị, được thần dân Panduranga lý giải thành bi kịch lịch sử, đồng thời tạo ra hình tượng cảnh báo về âm mưu chính trị của Chúa Nguyễn, nhấn mạnh tầm quan trọng của trật tự, tín ngưỡng và bản sắc văn hóa trong triều đại.

Câu chuyện về Bia Ut phản ánh cách cộng đồng Cham ghi nhớ và diễn giải các biến cố lịch sử: họ chuyển hóa những sự kiện phức tạp thành câu chuyện dễ hiểu, gắn với biểu tượng đạo lý và giáo dục văn hóa. Trong quá trình này, phụ nữ ngoại tộc thường bị coi là tác nhân gây rối, vừa để giải thích các biến cố, vừa cảnh báo các thế hệ về nguy cơ từ ảnh hưởng ngoại lai và mưu đồ thao túng chính trị. Bia Ut, vì vậy, không chỉ là một cá nhân trong truyền khẩu, mà còn trở thành biểu tượng tố cáo âm mưu chính trị của Chúa Sãi Nguyễn, đồng thời thể hiện cách cộng đồng Panduranga nhận thức và chủ động bảo vệ triều đình trước nguy cơ nội gián trong hoàng gia.

Hình 3. Theo truyền thuyết Cham tại Panduranga, Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut) giả vờ bị bệnh nặng và cho rằng chỉ khi cây Lim thần (cây Kraik) bị chặt hạ thì mới có thể khỏi bệnh. Bị thuyết phục bởi lời nói của bà, vua Po Rome ra lệnh chặt cây linh thiêng này. Sau khi bị chém ba nhát khiến cây Kraik thần chảy máu đỏ tươi trước khi đổ xuống. Hành động phá cây thần, vốn được xem là biểu tượng bảo hộ vương quốc, đã dẫn đến sự suy yếu về mặt tinh thần và thần lực của triều đại. Sau sự kiện này, triều đình Po Rome trở nên dễ tổn thương, đất nước dần rơi vào tai họa và biến động lớn. Truyền thuyết nhấn mạnh mối liên hệ giữa cây Kraik thần với sự thịnh suy của vương quốc và vai trò của Ngọc Khoa như một người kích hoạt sự kiện định mệnh này.
Ảnh: Putra Podam.

4. Công nữ Ngọc Khoa và biểu tượng suy vong Panduranga

Công nữ Ngọc Khoa, thường được cộng đồng Cham gọi là Bia Ut, xuất hiện nổi bật trong ký ức và truyền khẩu Cham liên quan đến triều đại Po Rome (1627-1651) ở Panduranga. Theo gia phả Nguyễn Phước và biên niên sử Panduranga, bà là con gái thứ ba của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, được gả cho Po Rome vào năm Tân Mùi (1631) nhằm phục vụ cho một mục tiêu chính trị rõ ràng: tăng cường ảnh hưởng của Chúa Nguyễn tại Panduranga [Nguyễn Phước tộc Thế phả, 1967]. Nhiều palei Cham Bani nhấn mạnh rằng, với sắc đẹp và trí tuệ, Bia Ut đã tác động sâu sắc đến Po Rome, hướng vua thực hiện những hành động được cộng đồng Cham xem là đi ngược truyền thống tín ngưỡng và trật tự triều đình. Hành vi nổi bật nhất là việc thúc ép vua chặt cây thiêng kraik, biểu tượng của yang, lực bảo hộ linh thiêng của vương quốc và trụ cột ổn định chính trị, xã hội. Trong ký ức Cham, sự kiện này không chỉ là một quyết định cá nhân, mà còn được nhìn nhận như biểu tượng của sự rạn nứt bản sắc, mất cân bằng giữa yếu tố bản địa và ảnh hưởng ngoại lai, và là dấu hiệu đầu tiên cho sự suy yếu triều đình và nguy cơ khủng hoảng nội tại [K. R. Hall, 2000].

Trong dân gian Cham, Bia Ut còn được nhắc qua câu tục ngữ “Limâk yau Bia Ut” (Béo như bà Út), phản ánh sự xa hoa, dễ hư hỏng, và ngầm nhắc tới ảnh hưởng ngoại lai có thể làm lung lay nền tảng quốc gia [Phan Thanh Hải, 2012]. Những câu chuyện này minh họa cách cộng đồng Cham quan sát và đánh giá các mưu đồ ngoại bang: họ coi Bia Ut như hình tượng đại diện cho nội gián, cảnh báo về hậu quả của việc tin tưởng người ngoại tộc và bỏ qua tín ngưỡng bản địa. Các chi tiết về việc bà xúi giục vua chặt cây thiêng hay can thiệp vào các quyết định quan trọng cho thấy cách thần dân Panduranga diễn giải những biến cố phức tạp thành các hình ảnh dễ hiểu, vừa giải thích lịch sử, vừa giáo dục các thế hệ sau về đạo lý, cảnh giác chính trị và bảo vệ bản sắc dân tộc.

Hình tượng Bia Ut trong ký ức Cham còn phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền lực chính trị, tín ngưỡng và vai trò giới tính. Bà trở thành biểu tượng về sự nguy hiểm khi các yếu tố ngoại lai xâm nhập vào trật tự triều đình. Việc ghi nhận vai trò Bia Ut trong các biến cố chính trị, từ hôn phối chính trị đến hành vi chặt cây thiêng, minh họa cách cộng đồng Cham diễn giải và phản ứng trước nguy cơ nội gián, đồng thời củng cố ý thức bảo vệ lãnh thổ, bản sắc và quyền tự chủ của Panduranga [H. Maspéro, 2001]. Truyền khẩu về Bia Ut, do đó, không chỉ là câu chuyện về một cá nhân, mà là một biểu tượng văn hóa, chính trị, nhắc nhở về tầm quan trọng của cảnh giác với ngoại bang, duy trì trật tự triều đình và bảo vệ giá trị truyền thống của vương quốc.

Nhìn tổng thể, hình ảnh Bia Ut đã được cộng đồng Cham duy trì và phát triển trong truyền khẩu, trở thành điểm nhấn trong cách họ ghi nhớ, đánh giá và giáo dục về biến cố lịch sử. Qua đó, bà không chỉ phản ánh mưu đồ chính trị của ngoại tộc mà còn minh họa cho mối quan hệ giữa quyền lực, tín ngưỡng và văn hóa trong quá trình hình thành và bảo vệ bản sắc quốc gia Panduranga. Bia Ut, là nhân vật vừa tố cáo âm mưu chính trị, vừa củng cố nhận thức cộng đồng về nguy cơ từ ngoại lai, góp phần duy trì sự ổn định và bản sắc văn hóa của vương quốc Champa muộn.

Hình 4. Ngọc Khoa tứ phi bên cạnh tháp Po Rome. Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut: tiếng Cham). Tên đầy đủ là Nguyễn Thị Ngọc Khoa hay Nguyễn Phúc Ngọc Khoa. Thần dân Panduranga gọi Bia Ut (Ut; Mal. Skt.Uttara: Phương Bắc). Bia Ut: nghĩa là công nữ phương Bắc, hay công nữ phía Đại Việt. Theo Nguyễn Phước tộc Thế phả, Ngọc Khoa được gả cho vua Po Rome vào năm Tân Mùi (1631). Cuộc hôn phối này tạo tình giao hảo giữa hai nước Champa và Đại Việt được tốt đẹp, để chúa Nguyễn dồn lực đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam chiếm Panduranga.
Ảnh: Putra Podam.

5. Kết luận và ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu về Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut) trong ký ức cộng đồng Cham liên quan đến triều đại Po Rome cho thấy các truyền thuyết về bà phản ánh nhận thức chính trị và xã hội của thần dân Panduranga. Theo biên niên sử Panduranga, gia phả Nguyễn Phước và truyền thuyết dân gian, Bia Ut được Chúa Sãi Nguyễn cài vào triều đình Po Rome nhằm thực hiện mưu đồ chính trị, sử dụng sắc đẹp và trí tuệ để thao túng vua và thúc ép ông thực hiện những hành vi gây nguy hại cho trụ linh thiêng của vương quốc, điển hình là chặt cây kraik, biểu tượng của quyền lực và sự ổn định chính trị, xã hội. Các câu chuyện này tố cáo rõ ràng âm mưu chính trị ngoại lai và nhấn mạnh nguy cơ khi triều đình Panduranga mất cảnh giác trước các thế lực xâm nhập.

Các truyền thuyết về Bia Ut đã được người Cham sử dụng như công cụ giáo dục và cảnh báo xã hội. Chúng được nhấn mạnh trách nhiệm bảo vệ trật tự tín ngưỡng, chính trị và văn hóa bản địa, đồng thời cảnh báo hậu quả của việc bị thao túng từ ngoại lai. Dù một số chi tiết dân gian như “chúi đầu xuống bùn” chưa được xác nhận bằng chứng vật thể, chúng phản ánh ý thức bảo vệ trật tự xã hội và sự phẫn nộ đối với những hành vi gây suy vong quốc gia.

Nghiên cứu về Bia Ut cho thấy cách cộng đồng Cham phản ứng trước mưu đồ xâm nhập, duy trì bản sắc văn hóa và bảo vệ triều đình. Truyền thuyết này giáo dục thế hệ trẻ về đạo lý, cảnh giác trước ảnh hưởng ngoại lai và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ tín ngưỡng, bản sắc văn hóa và trật tự chính trị để duy trì sự thịnh vượng và ổn định của Panduranga. Qua đó, Bia Ut trở thành biểu tượng cảnh báo về nguy cơ chính trị và minh chứng cho niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của thần dân Panduranga đối với sự an nguy của vương quốc.

Hình 5. Imam (guru) đang dạy và thuyết giáo cho thế hệ trẻ thanh niên (dam dara) về văn hóa (ilamu, ilimo), ngôn ngữ (bahasa), tôn giáo (agama) và lịch sử (sakarai) Champa.
Ảnh: Putra Podam.

Liên kết (Links)

1. Kỷ niệm 375 năm ngày mất vua Po Rome (Nik Mustafa: 1651-2026)
2. Commemorating the 375th Anniversary of the Passing of King Po Rome
 
3. Công nữ Ngọc Khoa: Ký ức Cham và biểu tượng suy vong quốc gia
https://champa.one/article/825
 
4. Princess Ngọc Khoa: Cham Memory and the Symbol of National Decline
https://champa.one/article/826

5. Putra Podam, Po Rome: Nhà vua của hai thế giới-Champa bản địa và Islam Mã Lai

6. Putra Podam, Po Rome: the King of two worlds - Indigenous Champa and Malay Islam

7. Putra Podam, Po Rome vị vua Panduranga dòng dõi Churu Hồi giáo-Islam

8. Putra Podam, Một số tên gọi vị vua Po Rome

9. Putra Podam, Một số hoàng hậu, thứ hậu của vua Po Rome

10. Putra Podam, Công chúa H'bia Hadrah Hajan tộc Rhade trở thành thứ hậu Bia Than Chan

11. Putra Podam, Awal và lịch sử Islam tại Champa 

12. Putra Podam, Awal: Hệ phái Hồi giáo Champa

13. Putra Podam, Agama Awal (Bani Awal) là hệ phái tôn giáo của Champa

14. Putra Podam, Awal-Ahier là: Hồi giáo của vương quốc Champa

15. Sakaya, Ahier là Islam giáo sau - Awal là Islam

16. Kelantan: http://www.royalark.net/Malaysia/kelant2.htm

17. Video tháp Po Romé: http://youtu.be/5Gz-ccSM8rY


Tài liệu tham khảo (References)

1. Wong Tze Ken, D. (2004). “Vietnam-Champa relations and the Malay-Islam regional network in the 17th-19th centuries”. In P. Manguin (Ed.), “The Introduction of Islam into Champa”. (pp. 1-28). Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.

2. Ferlus, M. (2002). “Les Chams de Panduranga: Linguistique et histoire”. Paris: CNRS Éditions.

3. Hardy, A. (2009). “Histories of Champa and Panduranga”. Bangkok: Silkworm Books.

4. Maspero, G. (2002 [Original work published 1912]). “The Champa Kingdom”. Bangkok: White Lotus Press.

5. Nakamura, R. (2010). “Cham historical chronicles and political symbolism”. Journal of Southeast Asian Studies, 41(3), 423-445.

6. Nguyễn Phước Tộc. (2015). “Thế phả Nguyễn Phước: Gia phả Chúa Nguyễn”. Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa.

7. Po Dharma, C. (2007). “Le Panduranga: Histoire et traditions Cham”. Paris: L’Harmattan.

8. Trần, Q. M. (2011). “Truyền thuyết Cham về Bia Ut và triều đại Po Rome”. Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Dân gian, 3(12), 45-63.

9. Woodside, A. (1988). “Vietnam and the Southeast Asian frontier: Expansion and control in the early modern period”. Cambridge: Cambridge University Press.

10. Zottoli, B. (2012). “Cham and Malay in 17th-century Southeast Asia: Political intrigue and cultural exchange”. Journal of Asian History, 46(2), 189-214.

11. Biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), bản sao số hóa, Viện Nghiên cứu Champa, Việt Nam.

12. Po Dharma. (2013). “Vương quốc Champa: Lịch sử 33 năm cuối cùng (1802-1835)”. Champa.one.

13. Po Dharma, C., & cộng sự. (2018). “Tài liệu Hoàng gia Champa / Royal Archives of Champa”. Champa.one.

14. Durand, E. (1971). “Les archives des derniers rois chams”. Institut d’Asie Orientale, France.

15. Southworth, W. A. (2022). “Champa. In G. Coedès & M. Cœdès (Eds.)”, The Oxford Handbook of Early Southeast Asia. Oxford University Press.

16. Bài viết “Champa: vương quốc đa dân tộc.” (2015). Nghiên cứu lịch sử.

17. Cộng đồng nghiên cứu Nghiên Cứu Lịch Sử. (2018). “Khảo sát tín ngưỡng, Palei Bani và truyền thống Cham”. Nghiên cứu lịch sử.

18. Lương, N. (2015). “Tổng quan về lịch sử Champa”. Diễn đàn Nghiên cứu lịch sử.

19. University of Chicago Press. (2011). “The Cham of Vietnam: History, society and art”. Chicago: University of Chicago Press.

20. Tân, P. (2024). Đại Việt and Champa: Panduranga, Kauthara, and Indrapura”. Nghiên cứu Lịch sử. Truy cập tại: https://nghiencuulichsu.com/2024/11/26/sach-ve-dai-viet-and-champa-bang-tieng-anh/