Agama Awal là một hệ phái tôn giáo hình thành tại Champa trên cơ sở tiếp nhận Islam và dung hợp với các yếu tố văn hóa bản địa. Đây là một tôn giáo độc thần, chỉ tôn thờ Allah như Đấng Tối Cao, Duy Nhất, đồng thời tôn kính Muhammad là vị Thiên sứ (Nabi) cuối cùng được Allah mặc khải Thiên kinh Koran. Awal, thường được hiểu là Islam sơ khai hay Islam cổ truyền tại Champa từ giai đoạn đầu du nhập, chịu ảnh hưởng chủ yếu từ truyền thống Shia và Sunni. Tuy nhiên, Awal không hoàn toàn đồng nhất với các hệ phái Islam phổ biến khác trên thế giới, mà là một nhánh đặc thù của Islam Champa, khác biệt với các truyền thống như Sunni ở thế giới Ả Rập, Shia ở Iran, Ahmadiyya ở Pakistan, Kharijite ở Oman, Sufi ở Libya và Sudan, hay Wahhabi ở bán đảo Ả Rập.
Trong cấu trúc xã hội, tôn giáo của cộng đồng Islam Champa dòng Awal, có thể phân thành hai tầng lớp chính.
Tầng lớp thứ nhất là giới giáo sĩ, thường được gọi là Acar (hoặc Ulama). Đây là nhóm trực tiếp thực hành việc thờ phượng Allah và tuân phục Muhammad với tư cách là vị Thiên sứ cuối cùng. Chức năng của giới Acar bao gồm học tập và truyền dạy Koran, thực hành các quy định kiêng cữ, tiến hành nghi lễ trong tháng Ramadan (Ramawan), lễ Eid al-Adha (Waha), đồng thời đảm trách các nghi thức liên quan đến vòng đời của người Cham theo Awal.
Tầng lớp thứ hai là tín đồ thường dân, gọi là Gahéh. Nhóm này không trực tiếp đảm nhiệm các hoạt động hành lễ tôn giáo mà chủ yếu phục vụ, hỗ trợ và tuân phục giới giáo sĩ Acar, qua đó gián tiếp thể hiện đức tin đối với Allah. Tuy nhiên, về nguyên tắc, một cá nhân thuộc tầng lớp Gahéh nếu được trang bị đầy đủ kiến thức tôn giáo và Koran vẫn có thể trở thành Acar để trực tiếp đảm nhiệm việc hành lễ và thờ phượng Allah.
Vì vậy, khi đề cập đến hệ phái Awal trong Islam Champa, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là giới giáo sĩ Acar cùng hệ thống nghi lễ của họ, thay vì toàn bộ tín đồ thường dân Gahéh.

Hình 1. Sơ đồ Awal Champa nằm trong 73 nhánh, chi nhánh Islam trên thế giới.
1. Thư Inrasara gửi Katip Tấn
Inra Sara Gửi Từ Tấn!
Tôi với ông quen thân nhau, nhưng từ khi ông tự nguyện làm Jawa lai gây xáo trộn cộng đồng Cham, tôi coi ông là một tội đồ tai hại. Nói với ông 1 lần này thôi.
5 trụ cột Islam là: Chahada, Salat, Ramadan, Zakat và Hadj, tôi hỏi ông vốn là tu sĩ Bà-ni, nay thành Jawa lai:
[1] Chahada, các vị Acar tôn kính Allah, Mohammed bên cạnh còn cúng tế bao nhiêu Pô Yang khác, chính bản thân ông cũng làm như vậy - hỏi bên Islam có như thế không?
[2] Salat, các vị Acar hôm nay có còn quỳ lạy đúng phép như bên Islam không?
[3] Ramadan, các vị Acar có chay tịnh nghiêm ngặt như bên Islam không?
[4] Zakat, các vị Acar có còn bố thí như bên Islam không?
[5] Hadj, các vị Acar có còn khát khao đi hành hương Mecca để thành 1 Hadj không?
Cả 5 đều KHÔNG. Đó là bên chức sắc, còn tín đồ Bà-ni thì hoàn toàn KHÔNG. Ông không hiểu hay cố ý không hiểu?
2. Trụ cột 2 của Islam (Hồi giáo)
Theo Islam (Hồi giáo), các tín đồ phải tuân theo năm điều, đó là năm trụ cột hay năm nghĩa vụ thiêng liêng của các tín đồ. Những bổn phận này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ý thức của tín đồ với cộng đồng Islam nói chung. Năm trụ cột của Islam là: Shahadah, Salat, Sawm, Haji, Zakat.
Salat (Salah, Solat): là trụ cột thứ 2 của việc cầu nguyện. Tín đồ phải cầu nguyện năm lần một ngày theo những thời điểm đã được ấn định để mọi tín đồ duy trì sự kết nối với Đấng Tạo Hóa của mình.
3. Phản biện
3.1 Inrasara tuyên bố Mục 2: “[2] Salat, các vị Acar hôm nay có còn quỳ lạy đúng phép như bên Islam không?”
3.2. Phản biện Mục 1
Nhận định của Inrasara trong Mục 2 cho thấy nhiều điểm thiếu chính xác và chưa phản ánh đúng bản chất của Agama Awal. Các lập luận này bộc lộ sự thiếu hiểu biết đầy đủ về Awal với tư cách là một hình thức Islam đặc thù của Champa, đồng thời cũng chưa thể hiện sự am hiểu thấu đáo về Ahier trong cấu trúc tôn giáo, xã hội truyền thống của người Cham. Vì vậy, những kết luận mà Inrasara đưa ra về Agama Awal thiếu cơ sở học thuật và khó có thể xem là phù hợp với thực tiễn lịch sử cũng như đời sống tôn giáo của cộng đồng Cham.
Trụ cột thứ hai trong Islam (Awal) là Salat, tức nghi thức cầu nguyện được thực hiện vào năm thời điểm cố định trong ngày nhằm duy trì sự kết nối giữa tín đồ với Allah, Đấng Tạo Hóa. Đây là một trong những nghĩa vụ thiêng liêng và nền tảng nhất của đời sống tôn giáo, đồng thời là phương thức để tín đồ gắn bó với Thiên kinh Koran, tự rèn luyện bản thân và củng cố đức tin.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi tín đồ Islam đều thực hiện đầy đủ năm lần Salat mỗi ngày. Mức độ thực hành nghi lễ này còn phụ thuộc vào đức tin (Iman), nhận thức tôn giáo và điều kiện cụ thể của từng cá nhân.
4. Trụ cột thứ hai: Salat (cầu nguyện)
Salat (ṣalāh, solat; tiếng Ả Rập: صلاة) là một trong năm trụ cột cơ bản của Islam và là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi tín đồ. Trong tiếng Việt, Salat thường được dịch là “cầu nguyện”; tuy nhiên, cách dịch này đôi khi chưa phản ánh đầy đủ ý nghĩa của khái niệm trong Islam. Salat không chỉ đơn thuần là hành vi cầu xin hay khấn nguyện, mà còn là một hình thức thờ phượng mang tính thể chất, tinh thần và tâm linh, được thực hiện theo các quy định nghiêm ngặt về thời gian, tư thế và nội dung đọc tụng.
Salat bao gồm những lời tán dương, cầu nguyện và phục tùng Allah, được tiến hành năm lần mỗi ngày vào các thời điểm nhất định. Đây là phương thức để tín đồ duy trì mối liên hệ trực tiếp với Allah, củng cố đức tin và rèn luyện đời sống đạo đức.
4.1. Một số động tác rukun trong Salat
Trong Salat, Rukun là những thành phần hoặc nghi thức cốt lõi bắt buộc phải thực hiện. Nếu một Rukun bị cố ý bỏ qua hoặc quên thực hiện mà không được bổ sung đúng cách, thì Salat sẽ không còn giá trị. Dưới đây là bốn Rukun cơ bản thường gặp trong Salat.
- Qiyām (قيام): là tư thế đứng mở đầu trong Salat và là một phần không thể thiếu của nghi lễ. Tín đồ đứng hướng về Qiblah, đặt tay phải lên trên tay trái trước ngực hoặc bụng, sau đó đọc Surah Al-Fātiḥah và một số câu Kinh Qur’an khác, đặc biệt trong rak‘at thứ nhất và thứ hai.
- Rukūʿ (ركوع): là động tác cúi người về phía trước, đặt hai tay lên đầu gối và giữ lưng ở tư thế ngang. Đây là biểu hiện của sự khiêm nhường và phục tùng trước Allah, được thực hiện trước khi chuyển sang tư thế Sujūd.
- Sujūd (سجود): là tư thế phủ phục hoặc lễ lạy Allah. Trong tư thế này, tín đồ đặt bảy bộ phận của cơ thể chạm đất, bao gồm trán và mũi, hai lòng bàn tay, hai đầu gối và các ngón chân của hai bàn chân. Sujūd được xem là thời điểm tín đồ ở gần Allah nhất, đồng thời là lúc thể hiện sự tôn kính và ca ngợi Ngài.
- Julūs (جلوس): là tư thế ngồi giữa hai lần Sujūd. Tín đồ ngồi trên bàn chân trái, giữ bàn chân phải dựng đứng, đặt hai tay lên đùi gần đầu gối và đọc những lời cầu nguyện ngắn như “Rabbighfir lī” (“Lạy Allah, xin tha thứ cho con”), trước khi tiếp tục thực hiện Sujūd lần thứ hai.
Như vậy, Qiyām, Rukūʿ, Sujūd và Julūs là bốn Rukun cơ bản và quan trọng trong Salat, phản ánh sự kết hợp giữa yếu tố thể chất, tinh thần và đức tin trong nghi thức thờ phượng của Islam.


Hình 2a, 2b. Động tác Rukun chính trong cầu nguyện Salat của tín đồ Islam chính thống giáo.





Hình 3a, 3b, 3c, 3d, 3e. Động tác Rukun chính trong cầu nguyện Salat của Giáo sĩ (Acar) theo Agama Awal hoàn toàn là các động tác Rukun của Islam (Hồi giáo chính thống).
4.2. Nghi thức Salat
Salat, lễ nguyện gồm có một số động tác nhất định mà bắt buộc mọi tín đồ Islam phải thực hiện. Để thực hiện các động tác lễ nguyện phải đọc Thiên kinh Koran bằng tiếng Ả Rập (Arabic) và mặt hướng về Kabah (Thánh địa Makkah, Saudi Arabia).
Bước 1: Sau khi đã lấy nước Wudu, và đã đến giờ dâng lễ Salat, tín đồ đứng thẳng người nghiêm trang hướng mặt về Kiblat (Qiblah) (hướng ngôi đền Kabah tại thánh địa Makkak), còn ở Việt Nam hướng Kiblat trùng với hướng Tây (hướng mặt trời lặn).
Kế tiếp, định tâm cho lễ Salat. Người đứng thẳng, giơ hai bàn tay lên ngang vai (hoặc ngang trái tai), hai bàn tay xòe ra, các ngón tay khép lại, lòng bàn tay hướng về phía trước, mắt nhìn xuống nơi quỳ lạy đồng thời nói:

“Allahu Akbar”. [Allah vĩ đại nhất].

Tiếp sau đó, đặt tay phải bên trên tay trái và khoanh hai tay áp lên lòng ngực, và đọc surah Al-Fatihah.
“A u’ zu bil la hi mi nash shay ton nir ro j.i.m”.
[Cầu xin Allah che chở bảo vệ bề tôi tránh khỏi sự quấy nhiểu của Shayton đáng bị nguyền rủa].

“Bismillaahir Rahmaanir Raheem”. [Nhân danh Allah Đấng rất mực độ lượng, Đấng rất mực khoan dung].

“Alhamdulillahi Rabbil ‘aalameen”. [Mọi lời ca ngợi, tán dương đều kính dâng Allah Đấng chúa tể của toàn vũ trụ].

“Ar-Rahmaanir-Raheem”. [Đấng rất mực độ lượng, Đấng rất mực khoan dung].

“Maliki Yawmi-Deen”. [Allah, Đức Vua của ngày phán xử].

“Iyyaka na’budu wa iyyaka nastaeen”. [Duy chỉ Ngài bầy tôi tôn thờ và cũng duy chỉ Ngài bầy tôi cầu xin sự giúp đỡ].

“Ihdinas Siraatal Mustaqeem”. [Cầu xin Ngài hãy hướng dẫn bề tôi đến với con đường chính đạo].

“Siraatal lazeena an’amta ‘alaihim ghayril maghdoobi ‘alaihim walad- aaalleen”. [Con đường của những người đã được Ngài ban ân sũng (con đường Islam) chứ không phải con đường của những người làm Ngài phẫn nộ (người Do Thái giáo) cũng không phải con đường của những người lầm đường lạc lối (người Thiên Chúa giáo)].
“Ameen”. [Cầu xin Allah chấp nhận lời cầu xin!!!].
+ Đọc xong surah Al-Fatihah, đọc thêm các surah ngắn dễ thuộc từ Thiên kinh Koran như surah Al-Ikhlas, surah An-Naas,…
* Surah Al-Ikhlas

“Bismillaahir Rahmaanir Raheem”. [Nhân danh Allah Đấng rất mực độ lượng, Đấng rất mực khoan dung].


“Qul huwa Allahu ahad”. [Hãy bảo: “Ngài, Allah, là Một (Duy nhất].

“Allahu assamad”. [Allah là Ðấng Samad].

“Lam yalid wa lam yoolad”. [Ngài không sinh ra ai, cũng không do ai sinh ra].

“Wa lam yakul-lahu kufuwan ahad”. [Và không một ai có thể ngang bằng với Ngài].
Bước 2: Khi đọc xong surah Al-Fatihah đưa hai bàn tay lên ngang vai (hoặc ngang tai) lòng bàn tay hướng về trước nói “Allahu Akbar” và cúi người về trước 90 độ, hai bàn tay nắm lấy hai đầu gối, đầu và lưng thẳng mắt nhìn xuống nơi quỳ lạy và đọc ba lần câu:


“Subhana Rabbiyal Adhim.” (Azhim).
[Vinh quang thay Thượng Đế của bề tôi, Ngài thật vĩ đại!].
Chú ý: Mỗi lần thay đổi động tác đều phải nói “Allahu Akbar” ngoại trừ động tác trong bước ba thì nói khác.
Bước 3: Trở lại tư thế đứng thẳng người đồng thời nói:

“Sami’Allahu liman hamidah”.
[Allah hằng nghe thấy tất cả lời ca ngợi của ai tán dương ca tụng Ngài].
Kế tiếp xuôi hai tay xuống và nói tiếp.

“Rabbana lakal hamdu”.
[Thưa Thượng Đế của bầy tôi, mọi lời ca ngợi tán dương là của Ngài].
Bước 4: Cuối lạy về phía trước đồng thời nói “Allahu Akbar”, khi lạy bắt buộc trán, mũi, đôi bàn tay, hai đầu gối, các ngón chân phải chạm trực tiếp xuống đất còn hai cùi chỏ thì đưa lên không được để chạm đất và nói:

“Subhana Rabbiyal ‘Alaa”. (3 lần)
[Vinh quang thay cho Đấng Chủ Tể Tối cao của bề tôi].

Bước 5: Ngồi dậy thẳng lưng và nói “Allahu Akbar” khi ngồi mông đặt trên lòng bàn chân trái, bàn chân phải dựng đứng lên hoặc để xuôi ra phía sau, hai bàn tay khép lại đặt trên đầu gối, mắt nhìn xuống nơi quỳ lạy và nói (1 lần):

“Ollo hum magh fir ly, war ham ny, wah di ny, wa a' fi ny, war zaq ny, war fa' ny”.
[Thưa Allah, xin tha thứ cho bề tôi, ban hồng ân cho bề tôi, dìu dắt bề tôi và nuôi dưỡng bề tôi].

Bước 6: Tiếp tục nói thêm lần nữa và nói “Allahu Akbar”, rồi cúi đầu lần hai giống như lần trước, và nói:

“Subhana Rabbiyal ‘Alaa”. (3 lần)
[Vinh quang thay cho Đấng Chủ Tể Tối cao của bề tôi].
Tới đây đã xong một Rak-at.
Bước 7: Tiếp đó đứng dậy và nói “Allahu Akbar”, rồi thực hiện tiếp Rak-at thứ hai giống như Rak-at thứ nhất không gì thay đổi nhưng ở Rak-at thứ hai sau khi quỳ lạy xong lần hai không đứng dậy liền như ở Rak-at thứ nhất mà ngồi lại đọc bài Al-Tahiya sau:
“At-tahiyyaatu Lillaahi wa-salaawaatu wa-tayyibaat.
As-salaamu ‘alayka ayyuha-Nabiyyu wa rahmatullaahi wa barakaatuhu.
As-salaamu ‘alayna wa ‘ala ‘ibaad-illaah-is-saaliheen.
Ash-hadu al-laa ilaaha ill-Allaaho wa ash-hadu anna Muhammadan ‘abduhu wa rasooluhu.”
Ý nghĩa: “Mọi điều bình an, tốt đẹp và những hành động tôn thờ là của Allah. Cầu xin Ngài ban bình an, sự khoan dung và phúc lành cho Nabi, cho bề tôi và cho tất cả người đạo hạnh trong số bề tôi của Ngài. Tôi xin tuyên thệ không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah và xin chứng nhận Muhammad là bề tôi, là vị Thiên Sứ của Ngài.”
Nếu dâng lễ Salat có bốn Rak-at (như Al-Zhuhr tức buổi trưa, Al-A’sr tức buổi chiều, Al-Isha tức buổi tối) hoặc có ba Rak-at (như Al-Maghrib tức buổi hoàng hôn) thì tiếp tục đứng dậy thực hiện Rak-at thứ ba và thứ tư giống như Rak-at thứ nhất và thứ hai cho đến lần quỳ lạy thứ hai của Rak-at thứ ba hoặc thứ tư thì ngồi lại đọc lại bài Al-Tahiya của bước bảy và đọc tiếp bài của bước tám. Nếu lễ Salat có hai Rak-at (như Al-Fajr tức rạng đông) thì cũng vậy sau lần quỳ lạy thứ hai của Rak-at thứ hai ngồi lại đọc lại bài Al-Tahiya của bước bảy và đọc tiếp bài của bước tám.

Bước 8: Phần cuối bài Tasha’hud đọc thầm:
“Allaahumma salli ‘ala Muhammad, wa ‘ala aali Muhammad, kama salayta ‘ala Ibraaheem, wa ‘ala aali Ibraaheem, innaka hameedun majeed.
Allaahumma baarik ‘ala Muhammad, wa ‘ala aali Muhammad, kama baarakta ‘ala Ibraaheem, wa ‘ala aali Ibraaheem, innak hameedun majeed.”
[Lạy Allah, cầu xin hãy ban sự bình an và phúc lành cho Nabi Muhammad và dòng tộc của Người giống như Ngài đã ban cho Nabi Ibrahim và dòng tộc của Người. Quả thực, Ngài là Đấng Tối Cao và Rộng Lượng].
Chú ý: Khi ngồi đọc thầm của bước bảy và bước tám chạm hai đầu ngón cái và ngón giửa của tay phải lại, ngón trỏ chỉ thẳng về phía trước, các ngón khác xếp xuôi theo chiều của ngón giửa và đặt trên đầu gối.
Bước 9: Sau khi đọc xong bài Tasha’hud, chào Salam kết thúc hành lễ. Quay mặt về bên tay phải và nói:

“As-salamu alaykum wa Rahmatullah”
Hay: “As-salamu alaykum wa Rahmatullahi wa Barakaatuhu.
Ý nghĩa: “Cầu xin Allah ban sự bình an”.
Hay: “Cầu xin Allah ban sự bình an, sự khoan dung của Ngài cho các bạn.”

Sau đó xoay mặt về bên tay trái và nói câu trên.
“As-salamu alaykum wa Rahmatullah”
Hay: “As-salamu alaykum wa Rahmatullahi wa Barakaatuhu.
Sau khi hoàn tất hành lễ (Salat), tín đồ ngồi lại vài phút đọc “Tass Beah” như sau:
“Subhanalloh” [Vinh quang ở Allah]. (33 lần)
“Alhamdulillah” [Xin tạ ơn Allah]. (33 lần)
“Allahu Akbar” [Allah Tối cao]. (33 lần)
Và có thể đọc thêm một lần câu sau:
“La Ila ha Il Lolloh, Wahdahu La sarikalah, La hul mulku, Wa lahul hamdu yuh yi wa yu mit, Wa hu wa Ala kulli shay in quoa dir”.
Sau cùng nếu có thể đưa hai bàn tay lên cầu nguyện (Du-a) theo ý muốn. Cầu xin Allah ban mọi sự dể dàng đến những bề tôi của Ngài, Ameen.
*Surah An-Naas

“Bismillaahir Rahmaanir Raheem”. [Nhân danh Allah Đấng rất mực độ lượng, Đấng rất mực khoan dung].


“Qul a’uzu bi rabbin naas”. [Tôi cầu xin Đấng chủ tể của nhân loại].


“Maliki’n naas”. [Đức vua của nhân loại].


“Ilahi’n naas”. [Đấng thượng đế của nhân loại].


“Min sharril waswaasil khannaas”. [Che chở tránh khỏi sự hãm hại của kẻ thì thào rồi lẫn mất].


“Allazee yuwas wisu fee suduurin naas”. [Kẻ đã thì thào (những điều tác hại) vào lòng người].


“Minal jinnati wan naas”. [Thuộc loài Jinn và loài người].
4.3. Nghi thức Salat của hệ phái Awal (Hồi giáo)
Cơ bản các bước Salat của giáo sĩ (Acar) của hệ phái Bani Awal đều giống Bani Islam. Dưới đây, liệt kê một số động tác thực hiện trong Salat (cầu nguyện) của giáo sĩ (Acar) hệ phái Awal (Hồi giáo).




Hình 4. Động tác Rukun chính trong cầu nguyện Salat của Giáo sĩ (Acar) theo Agama Awal hoàn toàn là các động tác Rukun của Islam (Hồi giáo chính thống).
Đoạn trích từ Kinh sách giáo sĩ Awal trong hình dưới đây với nội dung như sau:
“Tôi định tâm hành lễ Eid al-Fitr 2 rakaat, được thực hiện theo Imam vì Allah- Đấng Tối Cao. Allah Vĩ Đại”.

Hình 5. Định tâm hành lễ Eid al-Fitr 2 rakaat của Acar Awal.
4.4. So sánh các động tác Rukun giữa Bani Awal và Bani Islam
Theo luật định ta thấy những động tác Rukun giữa Bani Awal và Bani Islam về thực hiện nghi thức Salat (Salah) thì hoàn toàn giống nhau.

Hình 6. Giáo sĩ đang “bang” và “azan” thông báo giờ cầu nguyệnư giữa hệ phái Bani Awal và Bani Islam.

Hình 7. Động tác Runkun thứ 9 trong Salat (Duk la tahiyat akhir).
Wudu (tiếng Chăm: mak aia; tiếng Việt: lấy nước), theo nghĩa ngôn từ là làm sạch sẽ. Theo nghĩa giáo lý Wudu là dùng nước rửa bốn phần của cơ thể, gồm mặt, đôi tay, đầu và đôi chân, theo cung cách giáo lý qui định mang ý nghĩa tôn thờ Allah.
Wudu rất quan trọng đối với tín đồ Bani Islam nói chung và tín đồ Bani Awal nói riêng, bởi vì hành lễ Solat (Salah) là cuộc sống tâm linh hàng ngày, giống như con người không thể tồn tại mà không có nước.
Để chuẩn bị bước vào Thánh đường (Masjid, Magik) trong tháng Ramadan (Ramawan), các giáo sĩ (Acar) phải tắm rửa, đoạn trích từ kinh sách Bani Awal cho thấy như hình dưới đây:
“Tôi định tâm tắm rửa từ ngày đầu của tháng Ramadan vì Allah, Đấng Tối Cao. Allah Vĩ Đại”.

Hình 8. Định tâm khi tắm rửa chuẩn bị vào Thánh đường (Masjid, Magik) tháng Ramadan (Ramawan) của giáo sĩ hệ phái Awal.
Trong Islam, tất cả việc hành lễ đều có cánh cửa mở ra để đón nhận ân phước, mà việc đón nhận ân phước trong hành lễ Solat chính là sự lấy nước Wudu, bởi hành lễ Solat mà không lấy nước Wudu, thì Solat đó không có giá trị.

Hình 9. Wudu của tín đồ Bani Islam (Hồi giáo chính thống).4




Hình 10. Wudu (lấy nước, mak aia) của giáo sĩ Awal (Hồi giáo).
5. Khẳng định
Khẳng định 1a: Trụ cột thứ hai của Islam là Salat (ṣalāh, salah, solat). Trong cộng đồng Cham Awal, giới giáo sĩ Acar cũng như tín đồ Cham Islam chính thống đều thực hiện Salat theo các động tác và nghi thức cơ bản của Islam, bao gồm các Rukun như Qiyām, Rukūʿ, Sujūd và Julūs.
Khẳng định 1b: Từ đó có thể thấy rằng giới giáo sĩ Acar trong Agama Awal chỉ tôn thờ duy nhất Allah. Các nghi thức cầu nguyện và hành lễ của Acar đều hướng đến Allah và được thực hiện trong không gian thánh đường, thường gọi là Majid hoặc Magik.
Khẳng định 1c: Trong Agama Awal, giới giáo sĩ Acar thực hiện Salat năm lần mỗi ngày trong tháng Ramadan (Ramawan). Ngoài tháng Ramadan, Acar chủ yếu thực hiện Salat vào ngày Suk (Jumat) và trong một số dịp lễ tôn giáo quan trọng khác.
Khẳng định 1d: Trong cấu trúc tôn giáo của Agama Awal, chỉ tầng lớp giáo sĩ Acar trực tiếp thực hiện Salat. Acar được xem là người đại diện cho từng dòng họ trong việc hành lễ và cầu nguyện. Trong khi đó, tầng lớp thường dân Gahéh không trực tiếp thực hiện Salat như trong Islam chính thống. Đây là một trong những điểm khác biệt quan trọng giữa Islam Champa dòng Awal và các truyền thống Islam chính thống khác. Sự khác biệt này phản ánh quá trình tiếp nhận Islam từ thế giới Ả Rập và sự tiếp biến của cộng đồng Cham trong bối cảnh văn hóa bản địa và lịch sử Champa.
6. KẾT LUẬN
Kết luận 1a: Từ các luận điểm đã trình bày, có thể thấy rằng giới giáo sĩ Acar trong cộng đồng Cham Awal thực hiện các động tác Rukun trong Salat tương đồng với các quy định cơ bản của Islam chính thống. Những tư thế như Qiyām, Rukūʿ, Sujūd và Julūs đều được duy trì như những thành phần cốt lõi của nghi thức hành lễ.
Kết luận 1b: Giáo sĩ Acar thực hiện Salat trong thánh đường Majid hoặc Magik, đặc biệt trong tháng Ramadan (Ramawan), với tần suất năm lần mỗi ngày, tương tự như quy định Salat trong Islam chính thống.
Kết luận 1c: Về mặt nghi thức, Salat của giới giáo sĩ Acar phù hợp với các động tác Rukun cơ bản của Islam và phản ánh rõ tính chất Islam trong đời sống tôn giáo của cộng đồng Cham Awal.
Kết luận 1d: Trong quá trình thực hiện Salat, giáo sĩ Acar chỉ hướng đến Allah như Đấng Tối Cao duy nhất. Nghi thức Salat không nhằm cầu nguyện cho các yang, thần linh bản địa hay các thực thể thuộc truyền thống Balamon.
Kết luận 1e: Do đó, quan điểm cho rằng giới giáo sĩ Acar của Agama Awal thực hiện Salat không đúng với quy định của Islam là một nhận định thiếu cơ sở. Những đánh giá như vậy chưa phản ánh đầy đủ đặc trưng của Agama Awal cũng như chưa xem xét đúng bối cảnh lịch sử, văn hóa và tôn giáo của cộng đồng Cham.
Hình 11. Tín đồ Bani Awal và Bani Islam cầu nguyện trong động tác Rukun Sujud.